Tương lai Việc làm

Nỗi lo mất việc vì AI tăng gấp đôi, nhóm tiến sĩ lại lo nhất

|Tác giả: Ban biên tập QUASA|7 phút đọc| 2
Nỗi lo mất việc vì AI tăng gấp đôi, nhóm tiến sĩ lại lo nhất

Ngày 2/9/2026, Federal Reserve Bank of Boston công bố nghiên cứu từ hai đợt khảo sát lao động Mỹ vào tháng 12/2024 và tháng 12/2025. Bản tin của Boston Fed cho biết tỷ lệ lo chính mình sẽ mất việc vì AI tăng từ 5% lên hơn 10%; nhóm có bằng tiến sĩ đạt 14% trong năm 2025, cao nhất trong các nhóm học vấn được nêu.

Kết quả đồng thời chỉ ra rằng mức độ bất an không tăng đơn giản theo mức sử dụng AI. Những người đã để AI đảm nhiệm một phần công việc nhưng chưa cảm nhận năng suất cải thiện rõ rệt lo mất việc nhiều nhất, trong khi nhóm nhận thấy lợi ích năng suất lớn lại tương đối lạc quan hơn về khả năng giữ việc.

Con số tăng gấp đôi đo cảm nhận, không đo số người đã mất việc

So sánh hai đợt khảo sát cho thấy nỗi lo mất việc vì AI tăng từ 5% lên hơn 10%, với nhóm tiến sĩ đạt 14%.

Chỉ số trung tâm của nghiên cứu là câu trả lời của người đang có việc làm về mức độ lo rằng AI sẽ khiến họ mất việc. Vì vậy, mức tăng từ 5% lên hơn 10% phản ánh rủi ro do người lao động tự cảm nhận, không phải tỷ lệ sa thải thực tế và cũng không phải dự báo chính thức về số việc làm sẽ biến mất.

Sự thay đổi ở nhóm tiến sĩ đặc biệt nổi bật vì không người nào thuộc nhóm này bày tỏ nỗi lo tương tự trong đợt năm 2024, trước khi tỷ lệ lên 14% một năm sau. Tuy nhiên, kết quả của một phân nhóm không đồng nghĩa phần lớn người có bằng tiến sĩ cho rằng họ sắp mất việc; nó chỉ cho thấy đây là nhóm học vấn có tỷ lệ lo ngại cao nhất trong mẫu năm 2025.

Nỗi lo tăng ở gần như mọi nhóm tuổi, trình độ học vấn và ngành nghề được khảo sát, thay vì tập trung vào một lĩnh vực duy nhất. Điều đó củng cố nhận định rằng tâm lý bất an đã lan rộng, nhưng dữ liệu chưa cho phép kết luận AI là nguyên nhân trực tiếp gây ra sự thay đổi.

Bất an đạt đỉnh khi AI đã thay nhiệm vụ nhưng năng suất chưa tăng

Hai trải nghiệm dùng AI khác nhau: năng suất tăng rõ rệt đi cùng cảm giác an toàn hơn, còn lợi ích mờ nhạt đi cùng bất an cao hơn.

Phân tích hồi quy của nhóm Anat Bracha, Rees Hagler và Jenny Tang ước tính xác suất lo mất việc ở người trả lời trung lập về tác động năng suất của AI là 21,2%, so với 6,4% ở nhóm hoàn toàn không thấy năng suất tăng và 6,1% ở nhóm cảm nhận mức cải thiện mạnh nhất.

Quan hệ hình gò này tách hai trải nghiệm rất khác nhau. Người hầu như chưa giao nhiệm vụ cho AI có thể cảm thấy công việc của họ khó tích hợp với công nghệ, nên chưa nhìn thấy sức ép thay thế trực tiếp. Ở đầu kia, người đạt lợi ích rõ rệt đã dùng AI để tiết kiệm thời gian ở một số nhiệm vụ rồi chuyển thời gian đó sang phần việc khác, qua đó có lý do để tin rằng công nghệ đang bổ trợ cho vị trí của mình.

Nhóm ở khoảng giữa lại đã chứng kiến AI đảm nhiệm một phần công việc nhưng chưa thu được hiệu quả tương xứng. Đây là lời giải thích mà nhóm tác giả đề xuất cho mức bất an cao hơn: người lao động có thể nhận ra khả năng thay thế của công nghệ trước khi tìm được cách biến nó thành lợi ích năng suất. Kết quả thể hiện mối liên hệ trong câu trả lời khảo sát, chưa chứng minh trải nghiệm năng suất thấp gây ra nỗi lo mất việc.

Nỗi lo cho toàn ngành lớn hơn nhiều nỗi lo cho bản thân

Trong đợt khảo sát năm 2025, khoảng một phần mười người trả lời lo cho chính công việc của mình, nhưng sáu trên mười dự báo AI sẽ dẫn đến sa thải hoặc làm giảm tổng số lao động trong ngành. Hai tỷ lệ không mâu thuẫn vì chúng đo hai đối tượng khác nhau: an toàn của vị trí hiện tại và triển vọng việc làm của cả ngành.

Một người có thể tin rằng kinh nghiệm, kỹ năng hoặc nhiệm vụ riêng của mình vẫn hữu ích, đồng thời dự báo doanh nghiệp sẽ tuyển ít người hơn hoặc cắt giảm những vị trí khác. Khoảng cách này cho thấy câu chuyện AI làm co hẹp việc làm trong tương lai phổ biến hơn nhiều so với cảm giác AI sắp trực tiếp lấy công việc hiện tại.

Khảo sát cũng ghi nhận người lao động kỳ vọng AI tạo ra vị trí mới ngay trong một số ngành có mức lo ngại cao. Bức tranh vì thế gần với sự tái cấu trúc nhiệm vụ và nghề nghiệp hơn là một dự báo thống nhất rằng lao động con người sẽ bị loại bỏ trên diện rộng.

Hai đợt khảo sát chưa thể dự báo sa thải thực tế

Đối chiếu cảm nhận mất việc tự báo cáo với dữ liệu tuyển dụng và sa thải thực tế tại Mỹ.

Dữ liệu Boston Fed đến từ một mô-đun đặc biệt của Survey of Consumer Expectations thuộc New York Fed, được thực hiện tại hai thời điểm cách nhau một năm. Khảo sát trực tuyến này sử dụng một bảng luân phiên đại diện toàn quốc gồm khoảng 1.300 chủ hộ Mỹ, còn phân tích về việc làm tập trung vào những người cho biết họ đang làm việc.

Thiết kế đó cho phép so sánh cảm nhận giữa cuối năm 2024 và cuối năm 2025, nhưng không thiết lập quan hệ nhân quả. Mức tăng năng suất, mức độ AI thay thế nhiệm vụ và nỗi lo đều do người tham gia tự đánh giá; các xác suất nêu trong nghiên cứu là kết quả mô hình sau khi kiểm soát một số đặc điểm cá nhân và công việc, không phải tỷ lệ mất việc quan sát được.

Một nghiên cứu độc lập công bố tháng 8/2026 đưa ra bối cảnh bổ sung bằng dữ liệu và phương pháp khác. Nghiên cứu do Stanford SIEPR giới thiệu nhận thấy nỗi lo tăng theo cường độ sử dụng AI và tập trung ở người dùng công nghệ cho chức năng cốt lõi của nghề nghiệp, nhưng chưa phát hiện phản ứng có ý nghĩa thống kê của tin tuyển dụng và sa thải ở các nghề tiếp xúc nhiều hơn với AI.

Với độc giả Việt Nam, các tỷ lệ của Boston Fed chỉ mô tả lao động Mỹ trong hai đợt khảo sát cuối năm 2024 và 2025, nên không thể chuyển trực tiếp sang thị trường Việt Nam. Điều đã được xác nhận là nỗi lo tự báo cáo tăng mạnh và phân hóa theo trải nghiệm năng suất; việc tâm lý này có báo trước sa thải thực tế hay chỉ phản ánh một giai đoạn chuyển đổi bất định vẫn cần dữ liệu việc làm và các đợt khảo sát tiếp theo.

Đọc thêm:

Chia sẻ:

Đăng ký bản tin

Nhận tin Web3, AI và tiền mã hóa mới nhất ngay trong hộp thư.

0