FPT.eContract hay Viettel vContract: phí ký có thể đảo ngược bảng giá

|Tác giả: Ban biên tập QUASA|8 phút đọc| 1
FPT.eContract hay Viettel vContract: phí ký có thể đảo ngược bảng giá

Không có phương án rẻ hơn trong mọi trường hợp giữa FPT.eContract và Viettel vContract. Giá gói tài liệu chỉ cho biết một phần chi phí; thứ tự có thể đổi khi doanh nghiệp phải mua chữ ký số theo lượt, dùng SMS hoặc trả phí khởi tạo. Nếu đã có chứng thư số phù hợp, phép tính lại khác.

Với cùng sản lượng hợp đồng, nên tách giá gói khỏi tiền ký và các khoản vận hành rồi mới so tổng. Phép tính dưới đây cho thấy FPT có lợi thế về khoản tiền gói ban đầu ở quy mô nhỏ, còn Viettel thấp hơn ở quy mô lớn theo các mức giá được công bố. Đó chưa phải kết luận về tổng tiền phải trả cho cùng một quy trình ký.

Giá gói đã gồm những khoản nào?

Bảng đối chiếu giá lưu ngày 05/09/2026 ghi gói FPT.eContract 100 tài liệu giá 1,2 triệu đồng, 1.000 tài liệu giá 9 triệu đồng và 5.000 tài liệu giá 40 triệu đồng. Bảng tách chữ ký số theo lượt khỏi tiền tài liệu: 33.000 đồng một lượt ở nhóm đến 1.000 lượt và 27.500 đồng một lượt ở nhóm 1.001–5.000 lượt. Phí SMS cũng có thể phát sinh. Mức 5.000 tài liệu trên trang đối chiếu là giá tham khảo của bên bán, cần được xác nhận trong báo giá dành cho cấu hình mua thực tế.

Bảng giá Viettel vContract ghi tổng gói gồm hợp đồng, dấu thời gian và VAT là 913.000 đồng cho 100 hợp đồng, 8,25 triệu đồng cho 1.000 và 37,4 triệu đồng cho 5.000. Trang này còn ghi phí khởi tạo 1 triệu đồng, thu một lần, và phí duy trì 1 triệu đồng mỗi năm từ năm thứ hai. Mỗi hợp đồng trong các gói được nêu có dung lượng lưu trữ tặng kèm 10 MB.

Hai đơn vị tính cần được quy về cùng một quy trình: FPT bán gói theo tài liệu, còn bảng Viettel tính theo hợp đồng. Một hồ sơ có thể cần nhiều người ký hoặc nhiều lượt xác thực, nên số tài liệu hay hợp đồng không tự động bằng số lượt ký. Giá Viettel nêu trên đã tính dấu thời gian; với FPT, khoản tương ứng phải được xác định theo phương án ký và báo giá cụ thể.

Ba kịch bản cùng sản lượng

Giả định để tính là mỗi hợp đồng tương ứng một tài liệu và doanh nghiệp mua đủ sản lượng để dùng trong năm đầu. Phần Viettel lấy tổng gói có dấu thời gian cộng phí khởi tạo; phần FPT lấy giá gói tài liệu từ bảng đối chiếu. Chưa cộng chữ ký số, SMS, tích hợp hoặc lưu trữ vượt điều kiện gói vì chưa có đơn giá tương ứng cho cùng cấu hình ở cả hai bên.

  • 100 hợp đồng: FPT có tiền gói 1,2 triệu đồng. Viettel là 913.000 đồng tiền gói cộng 1 triệu đồng khởi tạo, thành 1,913 triệu đồng. Khoản ban đầu của FPT thấp hơn 713.000 đồng, nhưng số tiền của Viettel đã gồm dấu thời gian.
  • 1.000 hợp đồng: FPT có tiền gói 9 triệu đồng; Viettel là 8,25 triệu đồng cộng 1 triệu đồng khởi tạo, thành 9,25 triệu đồng. Chênh lệch chỉ 250.000 đồng. Ngay trong bảng Viettel, đơn giá hợp đồng và dấu thời gian ở dòng này cộng lại không khớp đơn giá tổng, nên số tiền thanh toán cần được xác nhận khi đặt mua.
  • 5.000 hợp đồng: Bảng đối chiếu ghi gói FPT 40 triệu đồng. Viettel là 37,4 triệu đồng cộng 1 triệu đồng khởi tạo, thành 38,4 triệu đồng. Theo các khoản đang được công bố, Viettel thấp hơn 1,6 triệu đồng trước khi tính phương thức ký; giá FPT ở mức này vẫn cần báo giá xác nhận.

Chênh lệch ở từng mức chỉ là khoảng trống cho các khoản chưa cộng, không phải mức tiết kiệm đã được bảo đảm. Chẳng hạn, ở mức 1.000 hồ sơ, một khoản tính theo lượt có thể vượt khoảng cách giữa hai giá gói. Ngược lại, nếu doanh nghiệp đã có phương tiện ký dùng được trên nền tảng, không thể tự gán cho mọi hợp đồng mức phí mua chữ ký mới.

Khi chữ ký số tính theo lượt

Xét một kịch bản có điều kiện: mỗi tài liệu FPT cần mua đúng một lượt chữ ký số theo đơn giá của bảng đối chiếu, và doanh nghiệp chưa có chứng thư số phù hợp. Với 100 lượt, tiền ký cộng thêm 3,3 triệu đồng, đưa gói tài liệu và ký lên 4,5 triệu đồng. Với 1.000 lượt, tiền ký là 33 triệu đồng và tổng là 42 triệu đồng; với 5.000 lượt ở mức 27.500 đồng, tiền ký là 137,5 triệu đồng và tổng là 177,5 triệu đồng.

Đây không phải số tiền mọi khách hàng FPT sẽ trả. Nếu một hợp đồng có hai người đều cần mua chữ ký theo lượt, số lượt tính phí có thể lớn hơn số tài liệu; nếu người ký dùng chứng thư đã có, giả định mua thêm một lượt cho mỗi tài liệu lại không phù hợp. Cũng không thể đặt tổng FPT của kịch bản này cạnh giá gói Viettel rồi kết luận Viettel rẻ hơn đúng bằng phần chênh: chi phí cho cùng loại chữ ký số ở phía Viettel chưa được tính vào phép so sánh.

Điểm làm thay đổi lựa chọn là chi phí ký cho cùng số người ký và cùng phương thức xác thực. Dấu thời gian là một hạng mục riêng trong giá Viettel được nêu ở trên; OTP, SMS mời ký và chứng thư số theo lượt cũng cần tách riêng thay vì gộp chúng thành một khoản “phí ký”. Khi các bên tham gia hợp đồng dùng những cách ký khác nhau, chỉ một đơn giá bình quân trên hợp đồng sẽ che mất phần chi phí phát sinh.

Khoản một lần, khoản hằng năm và lưu trữ

Phí khởi tạo Viettel thuộc năm đầu, còn phí duy trì bắt đầu từ năm thứ hai theo bảng giá đã nêu. Vì thế, dự toán dùng dịch vụ nhiều năm phải tách tiền mua sản lượng hợp đồng khỏi khoản duy trì hằng năm. Không nên suy ra FPT không có chi phí vận hành chỉ vì bảng đối chiếu giá tài liệu chưa thể hiện đủ cấu hình bản quyền, hỗ trợ hoặc tích hợp.

Hướng dẫn thanh toán FPT.eContract yêu cầu người mua chọn gói, số lượng và đối tượng xuất hóa đơn trước khi hệ thống hiển thị nội dung gói cùng giá trị thanh toán. Con số tại bước thanh toán cần khớp với phương án đã hỏi mua, đặc biệt khi đơn hàng có chữ ký số, tích hợp phần mềm hoặc kênh gửi bằng SMS. Giá gói tài liệu đứng riêng không cho biết các khoản đó đã được chọn hay chưa.

Dung lượng lưu trữ tặng kèm cũng không giải quyết toàn bộ câu hỏi về vòng đời hồ sơ. Doanh nghiệp có tệp đính kèm lớn cần hỏi cách tính khi vượt dung lượng, thời hạn giữ dữ liệu, quyền tải dữ liệu khi ngừng dịch vụ và phí mở rộng nếu có. Các điều kiện này tác động đến chi phí lâu dài dù sản lượng hợp đồng hằng năm giữ nguyên.

Cấu hình cần có trong hai báo giá

Trang giới thiệu vContract nêu USB Token, SimCA, MySign, OTP và eKYC kết hợp OTP trong các phương thức ký hoặc xác thực được hỗ trợ. Sự hiện diện của một phương thức trên nền tảng không có nghĩa chi phí sử dụng đã nằm trong gói hợp đồng. Muốn so hai bên, doanh nghiệp cần yêu cầu báo giá dựa trên cùng một luồng ký thực tế.

  • Ghi rõ số tài liệu hoặc hợp đồng, số người ký trên mỗi hồ sơ và số lượt ký dự kiến; hỏi cách trừ sản lượng khi hồ sơ bị hủy hoặc phải ký lại.
  • Chỉ định chứng thư số đang có, USB Token, ký từ xa hay chữ ký mua theo lượt; tách tiền cấp mới, gia hạn và tiền từng lượt nếu áp dụng.
  • Xác định dấu thời gian được tính theo hợp đồng hay theo lần ký, đã nằm trong gói nào và khoản nào còn thu riêng.
  • Ước lượng SMS mời ký, SMS gửi OTP và thông báo trạng thái riêng rẽ, rồi hỏi đơn giá khi vượt số lượng dự kiến.
  • Nêu nhu cầu API, eKYC và kết nối phần mềm sẵn có; yêu cầu tách phí thiết lập một lần, phí định kỳ và phí theo lượt xác thực.
  • Chốt dung lượng, thời hạn lưu trữ, phí mở rộng và điều kiện lấy dữ liệu khi kết thúc dịch vụ; trình bày riêng phí khởi tạo và phí duy trì.

Với doanh nghiệp ký bằng chứng thư đã có và ít dùng SMS, giá gói tài liệu có thể là điểm xuất phát hữu ích. Khi nhiều bên phải mua chữ ký hoặc xác thực theo lượt, khoản đó có thể lớn hơn chênh lệch giá gói. Báo giá đáng so sánh là báo giá cho cùng sản lượng, cùng cách ký và cùng thời gian sử dụng.

Đọc thêm:

Chia sẻ:

Đăng ký bản tin

Nhận tin Web3, AI và tiền mã hóa mới nhất ngay trong hộp thư.

0