
FDI giải ngân đạt 21,07 tỷ USD, nhưng vốn cam kết tăng nhanh hơn nhiều

Trong thông cáo công bố ngày 3/10/2026, Cục Thống kê ước tính FDI thực hiện tại Việt Nam trong chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ; vốn đăng ký tính đến ngày 30/9 đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%. Hai chỉ tiêu cùng tăng nhưng đo những việc khác nhau: đăng ký ghi nhận các quyết định đầu tư và giao dịch góp vốn, còn thực hiện phản ánh vốn đã được triển khai trong kỳ.
Bản tin của Báo Điện tử Chính phủ ghi nhận công nghiệp chế biến, chế tạo nhận 17,40 tỷ USD, tương đương 82,6% vốn FDI thực hiện; tổng vốn thực hiện là mức cao nhất của kỳ chín tháng trong năm năm qua. Với doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng, cơ cấu vốn thực hiện cho thấy hoạt động đầu tư đang tập trung vào sản xuất. Nó chưa cho biết phần mua hàng mà các nhà cung ứng trong nước có thể nhận được.
Ba lớp tạo nên vốn đăng ký
Tổng vốn đăng ký gộp những quyết định có ý nghĩa khác nhau đối với sản xuất. Một dự án mới có thể cần xây dựng cơ sở hoạt động và hình thành mạng lưới cung ứng; dự án tăng vốn đã có hoạt động tại Việt Nam; còn góp vốn hoặc mua cổ phần trước hết là giao dịch về sở hữu. Vì thế, tách từng lớp giúp nhìn rõ điều gì đang làm quy mô cam kết tăng lên.
- Cấp mới: 3.108 dự án được cấp phép với 29,24 tỷ USD vốn đăng ký. Số dự án tăng 6,2% so với cùng kỳ, trong khi số vốn gấp 2,4 lần, cho thấy mức tăng về quy mô vốn mạnh hơn mức tăng về số dự án.
- Điều chỉnh: 948 lượt dự án đã được cấp phép từ các năm trước đăng ký tăng thêm 14,15 tỷ USD, cao hơn 25,1% so với cùng kỳ. Đây là cam kết mở rộng của dự án hiện hữu, không phải vốn của dự án vừa được cấp phép.
- Góp vốn, mua cổ phần: 2.335 lượt với giá trị đăng ký 6,97 tỷ USD, tăng 44,0% so với cùng kỳ. Giao dịch sở hữu có thể diễn ra mà không kéo theo ngay một dây chuyền sản xuất mới.
Phần cấp mới chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đăng ký và tăng mạnh nhất về giá trị. Tuy vậy, ngày được cấp phép không phải ngày toàn bộ số vốn đi vào hoạt động. Dự án còn triển khai theo tiến độ riêng, nên chỉ tiêu đăng ký phù hợp để nhìn quy mô dự định đầu tư hơn là đo lượng tiền đã được sử dụng trong cùng kỳ.
Vì sao không thể lấy vốn đăng ký trừ vốn giải ngân?
Hai tổng số không phải hai trạng thái của cùng một nhóm dự án. Vốn thực hiện trong chín tháng có thể bao gồm khoản triển khai của dự án được cấp phép từ các năm trước. Ngược lại, vốn đăng ký mới hoặc đăng ký tăng thêm trong kỳ có thể được thực hiện qua nhiều kỳ sau đó. Phép trừ giữa hai tổng vì vậy không cho ra số vốn còn chờ giải ngân của các dự án vừa được cấp phép.
Khoảng cách giữa hai tốc độ tăng còn phản ánh cách ghi nhận khác nhau. Một cam kết lớn được tính vào vốn đăng ký khi dự án được cấp phép hoặc điều chỉnh, trong khi chi phí xây dựng, mua thiết bị và vận hành phát sinh dần theo tiến độ. Riêng nhóm góp vốn, mua cổ phần còn bao gồm thay đổi quyền sở hữu; không thể mặc nhiên quy toàn bộ giá trị giao dịch này thành nhu cầu mua vật liệu hay linh kiện mới. Muốn đánh giá sức mua hiện tại của khu vực FDI, cơ cấu vốn thực hiện vì thế gần với hoạt động triển khai hơn con số cam kết.
Tiền đã thực hiện tập trung vào chế biến, chế tạo
Trong cơ cấu vốn thực hiện, chế biến, chế tạo vượt xa các ngành còn lại. Kinh doanh bất động sản đứng sau với 1,59 tỷ USD; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 723,4 triệu USD. Đây là cơ cấu vốn đầu tư được thực hiện theo ngành, không phải số tiền đã trả cho nhà cung ứng của từng ngành.
Cơ cấu dự án được cấp phép mới cho một lát cắt khác. Chế biến, chế tạo thu hút 13,38 tỷ USD, chiếm 45,8% vốn đăng ký cấp mới; vận tải và kho bãi đạt 5,14 tỷ USD, chiếm 17,6%. Nếu cộng vốn cấp mới với phần điều chỉnh của dự án cũ, vốn đăng ký vào chế biến, chế tạo là 21,82 tỷ USD, tương đương 50,3% của riêng hai nhóm đăng ký đó. Các tỷ lệ này có mẫu số khác tỷ trọng của ngành trong vốn thực hiện, nên không thể thay thế cho nhau.
Đối với nhà cung ứng, vốn thực hiện trong chế biến, chế tạo là tín hiệu về nơi hoạt động đầu tư đang diễn ra. Vốn đăng ký cấp mới cho biết nơi nhu cầu có thể hình thành khi dự án đi vào triển khai. Cả hai đều là số liệu theo ngành trên toàn quốc: chúng chưa chỉ ra nhà máy nào đang đặt hàng, mặt hàng cần mua hoặc thời điểm một hợp đồng sẽ được mở.
Cơ hội cho doanh nghiệp Việt phụ thuộc vào năng lực tham gia
Quy mô đầu tư vào sản xuất tạo khả năng phát sinh nhu cầu về đầu vào và dịch vụ công nghiệp, nhưng khả năng đó chỉ trở thành doanh thu trong nước khi nhà cung ứng đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Với một đơn hàng linh kiện hoặc vật liệu, các yêu cầu có thể bao gồm quy cách kỹ thuật, chất lượng ổn định, năng lực giao đúng tiến độ và khả năng tăng sản lượng. Bộ số liệu FDI không đo những điều kiện này và cũng không đo tỷ lệ mua hàng nội địa.
Trong trao đổi đăng trên Báo Công Luận, ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á tại Việt Nam, nói doanh nghiệp Việt “trước hết phải nâng cao năng lực để đủ khả năng tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ”. Ông cũng đề cập khả năng tạo giá trị gia tăng tại Việt Nam và mức độ tham gia thực chất của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi sản xuất. Đó là những điều kiện quan trọng hơn quy mô vốn đăng ký khi xét lợi ích lan tỏa từ dự án FDI.
Ở dự án đang vận hành hoặc mở rộng, cơ hội có thể xuất hiện gần hơn với các đơn mua phục vụ sản xuất hiện tại. Với dự án mới được cấp phép, nhu cầu phụ thuộc vào tiến độ triển khai và cách nhà đầu tư tổ chức mua hàng. Sự khác biệt ấy khiến cùng một mức tăng vốn đăng ký có thể đem lại thời điểm và loại cơ hội rất khác nhau cho từng nhà cung ứng Việt Nam.
Đọc thêm:
Bài viết liên quan


Công nghệ số Việt Nam thu 5,38 triệu tỷ đồng: xuất khẩu vẫn là động cơ lớn

World Bank nâng dự báo Việt Nam lên 7,4%: AI chưa tạo lợi ích đồng đều

Breedr gọi 27 triệu USD để số hóa từng con bò trong chuỗi cung ứng

Harvey lên định giá 15,5 tỷ USD: gần gấp đôi chỉ trong chín tháng

Mỹ thêm 162.000 việc làm, ngành thông tin vẫn mất nhân sự
Đăng ký bản tin
Nhận tin Web3, AI và tiền mã hóa mới nhất ngay trong hộp thư.