Xuất khẩu tăng 24,5%, nhưng khu vực FDI vẫn chiếm hơn 80%

|Tác giả: Ban biên tập QUASA|7 phút đọc| 3
Xuất khẩu tăng 24,5%, nhưng khu vực FDI vẫn chiếm hơn 80%

Tại họp báo thường kỳ quý III ở Hà Nội ngày 7/10/2026, ông Bùi Huy Sơn, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính của Bộ Công Thương, cho biết xuất khẩu hàng hóa 9 tháng tăng 24,5% so với cùng kỳ, còn khu vực FDI vẫn chiếm hơn 80% tổng kim ngạch, cụ thể là 80,6%, theo tường thuật của Báo Tin tức. Đà tăng tập trung chủ yếu ở điện tử, máy móc và thiết bị. Quy mô hàng bán ra nước ngoài tăng nhanh, nhưng phần giá trị mà doanh nghiệp công nghệ Việt Nam giữ lại không thể suy ra trực tiếp từ tổng kim ngạch.

Báo cáo của Cục Thống kê ghi nhận xuất khẩu 9 tháng đạt 434,30 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đạt 350,41 tỷ USD và chiếm 80,7%, còn khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD và chiếm 19,3%; hàng công nghiệp chế biến đạt 392,79 tỷ USD, tương đương 90,4% tổng xuất khẩu. Tỷ trọng FDI trong báo cáo cao hơn mức nêu tại họp báo một phần mười điểm phần trăm. Sự chênh lệch này không làm thay đổi thực tế rằng phần lớn kim ngạch được ghi nhận ở khu vực có vốn nước ngoài.

Điện tử và máy móc kéo kim ngạch đi lên

Theo số liệu hải quan do chuyên trang Thuế và Hải quan tổng hợp, xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong 9 tháng đạt 123,66 tỷ USD, tăng 59,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt 55,01 tỷ USD, tăng 27,9%; điện thoại và linh kiện đạt 51,77 tỷ USD, tăng 18,8%; ở chiều nhập khẩu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 188,94 tỷ USD, tăng 71,7%. Những nhóm hàng này cho thấy rõ quy mô tăng trưởng của điện tử và thiết bị.

Xuất khẩu máy tính, điện tử và linh kiện tăng nhanh cho thấy Việt Nam là một mắt xích có quy mô lớn trong hoạt động sản xuất hàng công nghệ. Song tên nhóm hàng không cho biết công đoạn nào được thực hiện trong nước, nguyên liệu đến từ đâu hoặc doanh nghiệp nào thiết kế sản phẩm. Một lô hàng điện tử xuất khẩu có thể gồm linh kiện nhập khẩu, công đoạn lắp ráp tại Việt Nam và dịch vụ do nhà cung cấp nội địa đảm nhận; tổng trị giá xuất khẩu gộp các phần đó vào cùng một dòng hàng.

Kim ngạch của nhóm máy móc và điện thoại cũng không thể cộng thẳng để tính phần đóng góp của doanh nghiệp Việt. Đây là số liệu theo mặt hàng, trong khi cơ cấu FDI được phân theo loại hình doanh nghiệp xuất khẩu. Muốn biết riêng nhà sản xuất nội địa tham gia đến đâu trong điện tử, cần dữ liệu kết hợp cả ngành hàng lẫn loại hình doanh nghiệp, thay vì áp tỷ trọng FDI của toàn bộ hàng hóa cho từng thiết bị.

Khu vực FDI đứng tên phần lớn hàng xuất khẩu

Khác biệt giữa khu vực FDI và khu vực trong nước trước hết phản ánh ai đứng tên hàng bán ra nước ngoài. Một doanh nghiệp Việt Nam có thể cung cấp bảng mạch, vỏ máy, khuôn mẫu, bao bì hoặc dịch vụ cho nhà lắp ráp có vốn nước ngoài; khi nhà lắp ráp xuất sản phẩm hoàn chỉnh, kim ngạch cuối cùng vẫn thuộc khu vực FDI. Ngược lại, một doanh nghiệp nội địa tự xuất khẩu cũng có thể sử dụng nhiều linh kiện nhập khẩu. Dữ liệu theo chủ thể xuất khẩu vì vậy không đo được nguồn gốc toàn bộ giá trị của sản phẩm.

Sự khác biệt này có hệ quả trực tiếp khi đánh giá năng lực công nghệ. Doanh nghiệp cung cấp một chi tiết đơn giản, doanh nghiệp làm linh kiện đòi hỏi kỹ thuật cao và doanh nghiệp sở hữu thiết kế sản phẩm có thể cùng tham gia chuỗi hàng điện tử, nhưng giữ lại những phần giá trị khác nhau. Tăng trưởng xuất khẩu cho thấy đầu ra của chuỗi lớn hơn; để nhận diện bước tiến của doanh nghiệp trong nước, cần biết họ bán đầu vào gì, đảm nhận công đoạn nào và có mở rộng được vai trò qua các đơn hàng tiếp theo hay không.

Nhập khẩu đầu vào tăng cùng xuất khẩu

Trị giá nhập khẩu máy tính, điện tử và linh kiện lớn hơn xuất khẩu cùng nhóm hàng, cho thấy nhu cầu đầu vào rất lớn trong giai đoạn này. Tuy nhiên, chênh lệch giữa hai tổng kim ngạch không phải số tiền doanh nghiệp Việt Nam mất đi. Mỗi nhóm thống kê bao gồm nhiều loại hàng khác nhau; linh kiện nhập trong kỳ có thể được lắp vào sản phẩm thuộc nhóm xuất khẩu khác hoặc nằm trong kho trước khi xuất đi. Thời điểm mua đầu vào và bán thành phẩm cũng không nhất thiết trùng nhau.

Giá đầu vào là một yếu tố khác tác động đến trị giá nhập khẩu, ngay cả khi số lượng linh kiện không biến động tương ứng. Hoạt động dự trữ có thể làm nhập khẩu tăng trước khi hàng hoàn thiện xuất hiện trong số liệu xuất khẩu. Vì vậy, cán cân riêng của một nhóm hàng giúp nhận diện quy mô giao dịch, nhưng không trực tiếp đo giá trị gia tăng tạo tại Việt Nam. Để tính chỉ tiêu đó phải lần theo giá trị của linh kiện, lao động, dịch vụ và từng công đoạn gắn với sản phẩm cuối cùng.

Phần giá trị ở lại với doanh nghiệp Việt Nam

Chênh lệch lớn về kim ngạch giữa hai khu vực đặt ra câu hỏi cụ thể hơn về lợi ích trong nước: doanh nghiệp Việt bán được bao nhiêu đầu vào cho các nhà xuất khẩu, phần việc của họ có chuyển sang công đoạn kỹ thuật cao hơn, và kỹ năng hay quy trình sản xuất có được chuyển giao hay không. Đây là những kết quả khác với việc đơn hàng xuất khẩu tăng. Một nhà cung cấp nội địa hưởng lợi bền hơn khi doanh thu, năng lực và vị trí của họ trong chuỗi cung ứng cùng được cải thiện.

Tỷ trọng FDI cao không có nghĩa toàn bộ lợi ích của xuất khẩu đi ra nước ngoài: nhà máy có vốn nước ngoài vẫn có thể mua hàng và dịch vụ trong nước, trả lương và tạo đơn hàng cho nhà cung cấp Việt Nam. Ngược lại, phần kim ngạch do doanh nghiệp nội địa đứng tên không tự động là giá trị nội địa nếu đầu vào nhập khẩu chiếm nhiều. Điều quyết định là cơ cấu mua hàng và những công đoạn thực hiện tại Việt Nam.

Những kỳ thống kê thương mại tiếp theo sẽ cho thấy liệu nhịp tăng của điện tử có tiếp tục và tỷ trọng giữa hai khu vực có dịch chuyển. Mức độ doanh nghiệp Việt Nam đi sâu vào chuỗi công nghệ sẽ bộc lộ rõ hơn qua dữ liệu mua hàng từ nhà cung cấp nội địa, giá trị gia tăng theo công đoạn và năng lực thiết kế, sản xuất mà họ thực sự nắm giữ.

Đọc thêm:

Chia sẻ:

Đăng ký bản tin

Nhận tin Web3, AI và tiền mã hóa mới nhất ngay trong hộp thư.

0